LƯU Ý LINK TRẮC NGHIỆM Ở CUỐI TRANG
Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ (25 tháng 2 năm 1861), Nguyễn Trung Trực về Tân An (nay là phường thuộc tỉnh Tây Ninh) Ngày 23 tháng 6 cùng năm, quân Pháp chiếm luôn Gò Công (trước thuộc Định Tường, nay thuộc Đồng Tháp), rồi cho tiểu hạm Espérance đến án ngữ nơi vàm Nhựt Tảo Quyền Quản binh đạo Nguyễn Trung Trực liền ra lệnh cho Phó Quản binh đạo Huỳnh Khắc Nhượng cùng Võ Văn Quang chuẩn bị kế hoạch tấn công chiếc tiểu hạm này
Quân Pháp
Tiểu hạm Espérance là một tàu gỗ có chỗ được bọc đồng chạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn, được trang bị một đại bác cùng nhiều vũ khí đa năng Đây là một trong những tàu thuộc hàng bậc nhất của hải quân Pháp lúc bấy giờ Chỉ huy tàu là Parfait, một trung úy hải quân trẻ tuổi, cùng 42 lính thủy
Nghĩa quân Nam Kỳ
Khoảng 150 nghĩa quân tham gia trận này dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Trung Trực cùng các thành viên khác là: Võ Văn Quang, Huỳnh Khắc Nhượng, Nguyễn Học, Nguyễn Văn Điền (hay Điều) và hương thôn Hồ Quang Chiêu
Trận Nhật Tảo đang tồn tại hai ý kiến khác nhau:
Thứ nhất, Nguyễn Trung Trực cho giả làm thuyền đám cưới, thừa lúc áp sát tàu Espérance rồi đánh úp
Thứ hai là ông Trực cho giả làm thuyền buôn lúa, để đánh chìm tàu
Ý kiến này được nhiều người chấp nhận, trong đó có sự đồng thuận của một số người tác giả người Pháp như Paulin Vial, Alfred Schreiner
Nhưng dù theo ý kiến nào, thì trận ác chiến đã diễn ra đại để như sau:
Khoảng trưa ngày 10 tháng 12 năm 1861, sau khi bố trí xong lực lượng phục kích trên bờ, tức thì 5 chiếc ghe chở Nguyễn Trung Trực cùng 59 nghĩa quân giả làm đoàn ghe buôn lúa (hoặc đoàn ghe đám cưới) tiến sát tiểu hạm Espérance Viên sĩ quan trực tưởng là đoàn ghe ghé xin phép lưu thông, nên nghiêng mình ra cửa sổ tàu thì bất ngờ bị vũ khí của nghĩa quân đâm trúng ngực Liền khi ấy, nghĩa quân tay cầm gươm giáo và đuốc, từ các ghe nhảy lên, vừa la hét, vừa đánh giáp lá cà với lính thủy Pháp
Ở hai bên bờ, các nghĩa quân cũng nhanh chóng đến tiếp chiến Nguyễn Học, Hồ Quang Chiêu lấy búa sắt phá tàu không vỡ nên đã cho phóng lửa đốt tàu, đánh chìm
Giám đốc Nội vụ Pháp ở Nam Kỳ là Paulin Vial, đã thuật lại sự kiện như thế này:
Lúc giữa trưa ngày 10 tháng 12, (Nguyễn Trung) Trực lợi dụng viên sĩ quan chỉ huy chiếc tiểu hạm L’Espérance đang đuổi theo bọn gian phi cách tàu khoảng 2 dặm Bốn hoặc năm chiếc ghe lớn có mui thả trôi theo hông tàu Đoàn thủy thủ nghỉ ngơi trên sàn tàu không nghi ngờ gì Viên sĩ quan giữ chức vụ phụ tá, thò mình ra cửa sổ vì tưởng rằng người buôn bán muốn xin thị nhận giấy phép lưu thông Tên vô phước này đã bị giết bằng một mũi giáo vào ngực (Rồi) đoàn người đột kích (bỗng) la hét khủng khiếp, (và) vài phút đồng hồ sau, (thì) sàn tàu tràn ngập hơn một trăm năm chục người Việt Nam cầm giáo, gươm và đuốc Một cuộc giáp chiến (giữa) lực lượng không tương xứng (đã) diễn ra Trong vài phút đồng hồ, lửa bắt qua mái rơm của chiếc tiểu hạm và cháy lan mau chóng Bị lửa táp, những người giao chiến nhảy bổ xuống sông hay chạy thoát vào trong những chiếc ghe Năm người trong đoàn thủy thủ: 2 người Pháp và 3 người Tagal không khí giới trốn trên một chiếc ghe, chèo thục mạng Từ xa họ thấy chiếc L’Espérance nổ tung mà những mảnh vỡ văng ra đến tận hai bờ sông, chôn vùi xác chết của 17 người Pháp và Tagal bị giết trong tai biến này
Do bị tấn công bất ngờ nên quân Pháp bị thiệt hại lớn: tiểu hạm Espérance bị đánh chìm, 17 lính và 20 cộng sự người Việt bị giết, chỉ có tám người trốn thoát, gồm 2 lính Pháp và 6 lính Tagal (tức lính đánh thuê Philippines, cũng còn gọi là lính Ma Ní) Viên sĩ quan chỉ huy tàu là Parfait vì vắng mặt, nên cũng thoát chết
Bên quân Việt toàn thắng, nhưng có 4 nghĩa quân hy sinh Theo tác giả Paul Vial, sau khi nghe tin tàu mình cai quản bị đánh chìm, trung úy Parfait tức tốc dẫn quân tiếp viện đến làng Nhật Tảo để trả thù Họ đã đốt phá nhiều nhà cửa (thiệt hại về người không rõ), rồi sau đó còn cho xây một bia tưởng niệm ở bên bờ sông
Chiến thắng này đã làm nức lòng nhân dân Việt Và khi tin ra đến Huế, vua Tự Đức liền cho ban lệnh thưởng Sử nhà Nguyễn chép: Vua phong thưởng cho Lịch làm chức Quản cơ, Nguyễn Văn Quang, Huỳnh Khắc Nhượng cùng hai mươi người nữa làm cai đội (và) đều được (thưởng) ngân tiền Binh lính tham gia được thưởng chung một ngàn quan tiền Bốn người bị chết đều được cấp cho tiền tuất gấp hai Ngoài ra, nhà vua cũng chuẩn cấp cho những nhà trong làng bị đốt cháy
Đối với Pháp, viên thanh tra bản xứ tại Nam Kỳ tên Paulin Vial gọi đây là:một sự kiện đau đớn làm người An Nam phấn chấn và gây xúc động, đau lòng sâu sắc trong lòng người Pháp
Còn Alfred Schreiner gọi chiến thắng Nhật Tảo, là khúc nhạc mở đầu cho một cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn lũy của người Pháp(Và) Cuộc đốt cháy tàu Espérance là một biến cố bi thảm đã gây nên một nỗi xúc động sâu sắc nơi người Pháp và kích thích một cách lạ lùng trí tưởng tượng của người Annam
"Theo sau chiến thắng trên, nhiều cuộc tấn công quân Pháp trên sông, trên bộ đã liên tiếp diễn ra, như: nghĩa quân Nguyễn Trung Trực tấn công tàu tuần tiễu Pháp trên vàm sông Bến Lức (tháng 12 năm 1862) và trên Sông Tra ngày 16 tháng 12 năm 1862 (có sách ghi ngày 17) gây nhiều thiệt hại cho đối phương Paulin Vial kể:
Ba chiếc tiểu hạm (Iorcha) đậu trên sông Vaico Đông (tức Vàm Cỏ Đông) nhằm kiểm soát sự lưu thông đường thủy, bị tấn công hết sức dữ dội bởi những nhóm người đông đảo, do họ được cổ vũ bởi trận đốt tàu EspéranceMột trong ba chiếc đó, chiếc tiểu hạm số 3 Viên sĩ quan chỉ huy tàu này đã bị thương"
Làm dân chài
Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1838 tại xóm nghề thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc ấp 1 Thạnh Đức, xã Bình Đức, tỉnh Tây Ninh - trước sáp nhập là ấp 1, Thạnh Đức, Bến Lức, Long An) Thuở nhỏ, ông còn có tên là Chơn
Nguyên quán gốc Nguyễn Trung Trực ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, Thị Trấn Bình Định (ngày nay là xã Phù Cát 4, tỉnh Gia Lai - trước sáp nhập là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) Ông nội là Nguyễn Văn Đạo, cha là Nguyễn Văn Phụng (tục danh là Thăng hoặc Trường), mẹ là bà Lê Kim Hồng
Gia đình cụ Nguyễn Văn Đạo (nội tổ của Nguyễn Trung Trực) và bào đệ trốn vào Gia Định, để tránh cuộc tầm nã nhà Tây Sơn sau khi vua Gia Long lên ngôi, và định cư tại thôn Bình Nhựt, tổng Bình Cách, huyện Thuận An, Phủ Tân Bình, trấn Phiên An (nay thuộc xã Bình Đức, tỉnh Tây Ninh - trước sáp nhập là xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) và sinh sống bằng nghề chài lưới vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông
Chân dung Nguyễn Trung Trực trong đền thờ tại Phú Quốc, Việt Nam.
Làm Quản cơ
Nguyễn Trung Trực sinh ra và lớn lên tại xóm nghề thôn Bình Nhật Được học văn võ tại Bảo Định, Định Tường Đặc biệt năm 1858 – 1859, ông đoạt giải quán quân võ đài tại Cai Tài, phủ lỵ Tân An Võ sinh các môn phái tham gia võ đài đều tôn Nguyễn Văn Lịch làm thủ lĩnh Dân quân tham gia đánh giặc Pháp
Tháng 2 năm 1859, Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định Vốn xuất thân là dân chài, nằm trong hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắng theo và còn chiêu mộ được một số nông dân vào lính để gìn giữ Đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương nhưng không được trọng dụng nên ông lui về Tân An Tại quê nhà xóm nghề thôn Bình Nhựt, phủ Tân An, ông tuyên thệ xuất quân ngày 10 tháng 3 năm Canh Thân (1860), đầu quân tại thành Kỳ Hòa dưới quyền chỉ huy của Trương Định và được phong là quyền sung Quản binh đạo, và khi thành Kỳ Hòa thất thủ, ông lại lui về phủ Tân An chống giặc
Sau đó ông chỉ huy đốt cháy tàu L'Espérance của Pháp, nên còn được gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch Trong sự nghiệp kháng thực dân Pháp của ông, có hai chiến công nổi bật, đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng hai câu thơ sau:
Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần
Thái Bạch dịch:
Lửa bừng Nhựt Tảo rêm trời đất
Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần
(Xem trận Nhựt Tảo ở trên)
Sau lần đốt được tàu L'Espérance của Pháp, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân tiếp tục chiến đấu qua lại trên các địa bàn Gia Định, Biên Hòa Khi Hòa ước Nhâm Tuất 1862 được ký, ba tỉnh miền Đông lọt vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Trung Trực không rời 3 tỉnh miền Đông, phối hợp với lãnh binh Trương Định đánh giặc Pháp Kỉ niệm 3 năm chiến thắng Nhựt Tảo (ngày 11/12/1864) ông Nguyễn tổ chức lễ tế nghĩa sĩ tại Tam Bình, Cần Giuộc (Long An), đọc văn tế nghĩa sĩ của cụ Nguyễn Đình Chiểu nhằm tố cáo tội ác của quân lang sa, mã tà cướp nước Sau khi Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định hi sinh, triều đình hối thúc rời 3 tỉnh miền Đông nên ông Nguyễn đem quân về miền Tây lập căn cứ nhiều nơi chống Pháp
Đầu năm 1867, ông được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ đất Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp đến nơi thì tòa thành này đã bị quân Pháp chiếm mất vào ngày 24 tháng 6 năm 1867 Không theo lệnh triều đình rút quân ra Bình Thuận, Nguyễn Trung Trực đem quân về lập mật khu ở Sân chim (tả ngạn sông Cái Lớn, xã An Biên, tỉnh An Giang) kháng Pháp với danh hiệu Dân chúng tự vệ và đổi tên thành Nguyễn Trung Trực (từ đây ông Nguyễn không còn liên quan gì tới triều đình nhà Nguyễn nữa) Từ nơi này, ông lại dẫn quân đến Hòn Chông (nay thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, lập thêm căn cứ kháng Pháp
Ở Kiên Giang, sau khi nắm được tình hình của đối phương và tập trung xong lực lượng (trong số đó có cả hương chức, nhân dân Việt – Hoa –Khmer); vào 4 giờ sáng ngày 19 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bất ngờ dẫn quân từ Tà Niên (nay là xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) đánh úp đồn Kiên Giang (nay là khu vực UBND tỉnh Kiên Giang), do Trung úy Sauterne chỉ huy
Kết thúc trận, nghĩa quân chiếm được đồn, tiêu diệt được 5 viên sĩ quan Pháp, 67 lính, thu trên 100 khẩu súng cùng nhiều đạn dược và làm chủ tình hình được 5 ngày liền
Đây là lần đầu tiên, lực lượng nghĩa quân đánh đối phương ngay tại trung tâm đầu não của tỉnh Nhận tin Chủ tỉnh Rạch Giá cùng vài sĩ quan khác bị giết ngay tại trận, George Diirrwell gọi đây là một sự kiện bi thảm (un événement tragique)
Hai ngày sau (ngày 18 tháng 6 năm 1868), Thiếu tá hải quân A Léonard Ausart, Đại úy Dismuratin, Trung úy hải quân Richard, Trung úy Taradel, Trần Bá Lộc, Tổng Đốc Phương nhận lệnh Bộ chỉ huy Pháp ở Mỹ Tho mang binh từ Vĩnh Long sang tiếp cứu Ngày 21 tháng 6 năm 1868, Pháp phản công, ông phải lui quân về Hòn Chông (Kiên Lương, Kiên Giang) rồi ra đảo Phú Quốc, lập chiến khu tại Cửa Cạn nhằm kình chống đối phương lâu dài
Sau những chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực, giặc Pháp thất điên bát đảo, điên cuồng truy sát ông và nghĩa quân Chúng tàn sát 700 người dân Rạch Giá để trả thù trận tấn công đồn đó Các tên Việt gian Tấn, Lộc, Phương tìm đủ mọi cách bắt ông Chúng treo giải thưởng 500 đồng và quan chức cho ai bắt được ông hoặc dâng thủ cấp Độc ác hơn, chúng bắt mẹ ông Nguyễn, đồng bào và trẻ con mà mỗi ngày chúng đem bắn mấy người, bắn cho đến khi nào Nguyễn Trung Trực ra hàng mới thôi Trong lúc này, vợ ông bị bệnh hậu sản qua đời Chôn cất vợ xong, lúc đầu nhân dân còn cho con ông bú thép, sau giặc Pháp khủng bố, họ bỏ chạy vào rừng Đứa bé chưa đầy tháng tuổi, không sữa nên đã chết Trong phút cuối cùng nơi rừng sâu, tay ôm xác con, mẹ bị chúng bắt, nhân dân thì bị tra khảo tàn sát, nghĩa quân đang bị núng thế, thuốc súng không còn, thế giặc lại mạnh; ông quyết định chọn lấy sự hi sinh nộp mình cho giặc vào ngày 19 tháng 9 năm 1868, hầu cứu lấy nghĩa quân và nhân dân khỏi bị tàn sát Bọn Pháp hí hửng vì bắt được ông, chúng giở trò đối xử tử tế, rút quân và đưa ông từ Rạch Giá về Sài Gòn bằng tàu Hải Âu Suốt chặng đường một ngày một đêm, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn cố hết sức khuyên ông theo Pháp để hưởng vinh hoa phú quý, chức tước, lợi lộc nhưng ông gác ngoài tai và khẳng khái nói:" Tôi muốn làm một chức thôi, chức gì mà có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây xâm lược "
Nhà sử học Phạm Văn Sơn thuật chuyện:
Hương chức và dân trên đảo bị đội Tấn dọa phải theo và phụ lực với hắn để bao vây bọn ông Trực Sau hai trận ghê gớm, bọn ông Trực phải trốn vào trong núi Đội Tấn rượt theo, nghĩa quân bị kẹt trong một khe núi nhỏ hẹp Cùng đường, bọn ông Trực phải ra hàng
Giám đốc Sở nội vụ Paulin Vial viết:
Nguyễn Trung Trực chịu nộp mạng, chỉ vì thiếu lương thực và vì mạng sống của bao nghĩa quân đang bị bao vây hàng tháng trời ròng rã tại Phú Quốc
Nhưng có người lại cho rằng để bảo toàn lực lượng nghĩa quân, nhân dân trên đảo và lòng hiếu với mẹ (Pháp đã bắt mẹ của ông để uy hiếp), Nguyễn Trung Trực tự ra nộp mình cho người Pháp và đã bị đưa về giam ở Sài Gòn
Nhưng theo lời khai ít ỏi của Nguyễn Trung Trực khi ông bị giam cầm ở Khám Lớn Sài Gòn với Đại úy Piquet, thanh tra bổn quốc sự vụ, thì sự việc như thế này, trích biên bản hỏi cung:
Tôi cho biết rõ rằng tôi đã tự ý quy thuận lãnh binh Tấn Vì hắn đến đảo, hắn bảo viết thơ yêu cầu tôi quy hàng, vì chúng tôi bị bao vây trong núi không có gì để sống, tôi bảo một người dân trói tôi và dẫn tôi đến Tấn Nếu tôi muốn tiếp tục chiến đấu, hắn không bắt tôi được dễ dàng như thế
Bắt được Nguyễn Trung Trực, Pháp đưa ông lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn để lấy khẩu cung Theo Việt sử tân biên, mặc dù Lãnh binh Tấn đã hết sức can thiệp để Pháp tha mạng cho ông Trực, nhưng Thống đốc Nam Kỳ G Ohier không chịu Vì cho rằng không thể tha được "một người đã không coi luật quốc tế ra gì, đã hạ một cái đồn của chúng ta và giết chết 30 người Pháp!" Và rồi ngày 27 tháng 10 năm 1868 (nhằm ngày 12/9 Mậu Thìn 1868), nhà cầm quyền Pháp đã đưa ông Trực ra pháp trường tại Rạch Giá và sai một người khmer trên Tưa (người dân thường gọi ông là Bòn Tưa) đưa ông ra hành hình, hưởng dương khoảng 30 tuổi
Người ta kể rằng:
Vào buổi sáng ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhân dân Tà Niên nơi nổi tiếng về nghề dệt chiếu, và nhiều nơi khác đổ xô ra chợ Rạch Giá, vì Pháp đem Nguyễn Trung Trực ra hành quyết Ông Trực yêu cầu Pháp mở trói, không bịt mắt để ông nhìn đồng bào và quê hương trước phút "ra đi" Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt ông, đã trải xuống đất một chiếc chiếu hoa có chữ "thọ"(chữ Hán) màu đỏ tươi thật đẹp cho ông bước đứng giữa Ông hiên ngang, dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời, nhìn đất nước và từ giã đồng bào
Tương truyền, trước khi bị hành quyết Nguyễn Trung Trực đã ngâm một bài thơ:
Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
Yêu gian đàm khí hữu long tuyền,
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên
Thi sĩ Đông Hồ dịch:
Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chang chang chẳng đội trời
Khi ông bị người Pháp giải về Sài Gòn, viên thống soái Nam Kỳ lúc bấy giờ vừa dụ hàng vừa hăm dọa, Nguyễn Trung Trực đã trả lời rằng:
“ Thưa Pháp soái, chúng tôi chắc rằng chừng nào ngài cho trừ hết cỏ trên mặt đất, thì mới may ra trừ tiệt được những người ái quốc của xứ sở này ”
Khi bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn, ông cũng đã bình tĩnh nói với người hỏi cung là Đại úy Piquet:
“ Số phận tôi đã đầy đủ, tôi đã không thành công trong việc cứu nguy nước tôi, tôi chỉ xin một điều là người ta kết liễu đời tôi càng sớm càng tốt ”
Và trước khi hy sinh, ông còn khẳng khái nhắc lại:
“Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây"
Là nơi giao hội giửa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo, Vàm Nhựt Tảo là một vùng sông nước phẳng lặng hiền hòa thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An
Nói chung dưới sự tác động của thiên nhiên và con người hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861
Tàu L' Espérance sau gần 120 năm nằm yên dưới đáy sông sâu đã được khai quật Tổng số hiện vật thu được là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 hiện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu như cong đà, be, lườn, cột buồm Tuy đã bị đục để lấy đi phế liệu nhưng tàu L' Espérance vẩn còn một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lỗ
Tất cả những hiện vật nêu trên đã được bảo quản và trưng bày tại Bảo Tàng Long An nhằm giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nước những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ
Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực- người đầu tiên duy nhất đánh chìm được một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX
Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lược bằng mưu trí và lòng dũng cảm dù chỉ được trang bị vũ khí thô sơ
Mặt khác ''trận hỏa hồng Nhựt Tảo'' chính là biểu tượng của tinh thần yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của nhân dân ta Chính những người ''dân ấp, dân lân'' chỉ vì ''mến nghĩa'' mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lược
135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L' Espérance, vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó
Vàm Nhựt Tảo nằm ở xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Trong tiếng Việt cổ, "Vàm" là từ dùng để chỉ nơi ngã ba sông, nơi một dòng sông nhỏ đổ vào một dòng sông lớn hơn.
Tọa độ đặc biệt: Đây là nơi giao nhau giữa sông Nhựt Tảo và dòng sông Vàm Cỏ Đông thơ mộng.
Địa thế: Vùng đất này mang đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống kênh rạch chằng chịt, đất đai phù sa màu mỡ. Chính địa thế sông nước này đã biến Nhựt Tảo trở thành một vị trí chiến lược quan trọng trong giao thông vận tải và cả trong quân sự thời kháng chiến.
Khí hậu của huyện Tân Trụ thuộc vùng nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, với hai mùa khô và mùa mưa tương phản. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10; mùa khô bắt đầu tư tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau. Mùa mưa ở Tân trụ thường đến sớm hơn và chấm dứt sớm hơn các huyện phía Bắc của tỉnh Long An
Chế độ mùa mưa là yếu tố khí hậu cơ bản tạo ra sự tương phản giữa 2 mùa khô và mùa mưa. Sự tương phản về mùa trong năm chi phối các yếu tố khí hậu khác: chế độ nhiệt, chế độ nắng và chế độ mưa.
Hướng gió cũng thay đổi theo mùa, với hai chế độ: chế độ gió mùa mưa và mùa khô. Vào mùa khô, gió chủ yếu thịnh hành theo hướng Đông Bắc, với tốc độ trung bình 5 – 7 m/s. Tân Trụ ít có bão, tuy nhiên đôi khi ảnh hưởng bão và áp thấp nhiệt đới, có mưa lớn xảy ra.
Trên địa bàn huyện còn nhiều nhánh sông như: sông Nhật Tảo, sông Tân Trụ và hệ thống kênh rạch chằng chịt như mạng nhện.
Hệ thống thủy lợi Nhựt Tảo cơ bản khép kín thông qua việc thi công các cống đầu mối (sông rạch thông ra Sông vàm Cỏ Đông và vàm Cỏ Tây) và đê bao ven sông. Hiện nay ngăn được lũ và triều cường, chống được mặn xâm nhập vào nội đồng, chủ động tưới tiêu tương đối tốt.
Từ một vùng quê thuần nông, nhờ vị trí thuận lợi "nhất cận thị, nhị cận giang", Vàm Nhựt Tảo và huyện Tân Trụ đã có những bước tiến dài về kinh tế.
Nông nghiệp bền vững: Nhờ nguồn nước ngọt dồi dào từ sông Vàm Cỏ Đông, người dân nơi đây phát triển mạnh nghề trồng lúa nước và các loại cây ăn trái. Đặc biệt, thanh long và các loại rau màu đang trở thành hướng đi giúp bà con thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Giao thương sông nước: Vàm Nhựt Tảo đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu hàng hóa giữa các xã trong huyện Tân Trụ với các địa phương lân cận qua đường thủy.
Du lịch lịch sử - sinh thái: Hiện nay, Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo đã được đầu tư xây dựng khang trang, thu hút hàng ngàn lượt khách tham quan mỗi năm. Điều này không chỉ giúp phát triển dịch vụ địa phương mà còn quảng bá hình ảnh Long An đến với bạn bè quốc tế.
Văn hóa vùng Vàm Nhựt Tảo là sự hòa quyện giữa truyền thống yêu nước nồng nàn và nét đặc trưng của văn minh miệt vườn Nam Bộ.
Lễ hội đền thờ Nguyễn Trung Trực
Hàng năm, vào các ngày lễ kỷ niệm chiến thắng Nhựt Tảo, người dân địa phương và du khách thập phương lại hội tụ về đây. Lễ hội không chỉ có các nghi thức trang trọng để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc mà còn có các hoạt động văn hóa dân gian như: đờn ca tài tử, các trò chơi dân gian dưới nước, đua ghe ngo...
Tính cách con người
Người dân Nhựt Tảo nói riêng và Tân Trụ nói chung mang đậm khí chất của lưu dân đi mở cõi: thẳng thắn, bộc trực, hiếu khách và vô cùng dũng cảm. Sự hy sinh của các nghĩa sĩ năm xưa đã hun đúc nên tâm hồn người dân nơi đây: một lòng theo Đảng, theo cách mạng và luôn sẵn sàng đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn.
Kỹ thuật xây dựng cầu dây văng là một trong những thành tựu tiêu biểu của ngành kỹ thuật xây dựng hiện đại. Đây là loại cầu có kết cấu thanh mảnh, chịu lực hiệu quả và thường dùng để vượt qua các khoảng cách lớn như sông rộng, vịnh biển hoặc thung lũng.
Một cầu dây văng gồm 3 thành phần chính:
Trụ tháp (Pylon):
Là bộ phận cao nhất, chịu lực chính từ dây và truyền xuống móng. Tháp có thể có dạng chữ A, chữ H, chữ Y hoặc một trụ đơn.
Dây văng (Stay cables):
Là các bó cáp thép cường độ cao nối từ tháp xuống mặt cầu. Chúng chịu lực kéo và giữ cho mặt cầu không bị võng.
Mặt cầu (Deck):
Là phần cho xe chạy, có thể làm bằng bê tông cốt thép, thép hoặc kết hợp.
Cầu dây văng hoạt động dựa trên hai loại lực chính:
Lực kéo (tension) trong dây văng: giữ mặt cầu treo lên.
Lực nén (compression) trong trụ tháp: truyền tải trọng xuống nền móng.
👉 Khi xe chạy trên cầu:
Tải trọng → truyền vào mặt cầu
Mặt cầu → truyền vào dây văng
Dây văng → kéo lên tháp
Tháp → truyền xuống móng
So với cầu treo, cầu dây văng ổn định hơn và không cần dây neo lớn ở hai đầu.
Xây trụ trước
Lắp từng đoạn dầm từ trụ ra hai phía
Lắp dây văng từng bước để giữ cân bằng
👉 Đây là phương pháp phổ biến nhất hiện nay.
Các đoạn dầm được đúc sẵn
Sau đó cẩu lắp lên và căng dây văng
Dùng cho cầu nhỏ hoặc điều kiện thuận lợi
Ít phổ biến với cầu lớn
Cáp dự ứng lực cường độ cao: chống mỏi, chống ăn mòn
Bê tông dự ứng lực: tăng khả năng chịu lực
Thép kết cấu nhẹ: giảm tải trọng bản thân
Công nghệ chống rung cho dây: giảm dao động do gió
Hệ thống quan trắc thông minh (SHM): theo dõi biến dạng, tải trọng theo thời gian thực
Vượt nhịp lớn (200–1000m)
Ít vật liệu hơn cầu treo
Thẩm mỹ cao
Thiết kế và thi công phức tạp
Chi phí cao
Yêu cầu kỹ thuật rất chính xác
Cầu Mỹ Thuận là cầu dây văng đầu tiên ở Việt Nam.
Cầu bắc qua sông Mê Kông
Cầu Cần Thơ là cây cầu bắc qua sông Hậu, nối liền phường Hưng Phú, thành phố Cần Thơ và phường Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long.[1]
Tại thời điểm hoàn thành vào năm 2010, đây là cây cầu dây văng có nhịp chính dài nhất khu vực Đông Nam Á.
Cầu Rạch Miễu là cầu dây văng nối liền hai tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long.
Bờ bắc của cầu là phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp, bờ nam là xã Phú Túc, tỉnh Vĩnh Long, cách thành phố Bến Tre cũ 10 km.
Đây là cây cầu đầu tiên với thiết kế và tổng thầu, xây dựng - toàn bộ là các công ty Việt Nam
Cầu Nhật Tân là một cây cầu tại thủ đô Hà Nội, đây là cây cầu dây văng lớn nhất Việt Nam hiện tại được xây dựng với tổng mức đầu tư hơn 13.626 tỷ đồng nằm trong tổng số 7 cầu bắc qua sông Hồng đoạn Hà Nội nối phường Phú Thượng, Tây Hồ, Hồng Hà với xã Vĩnh Thanh.
Có 10 câu hỏi cho mỗi phần, các em hãy tham gia khảo sát nhé